• vien kim cuong koh i noor 1

    Viên kim cương Koh-i-Noor là một nỗi kinh hoàng thực sự, khi hầu như bất kì ai chạm vào nó đều có kết cục thảm khốc.

    Koh-i-Noor (tiếng Ba Tư nghĩa là: Núi ánh sáng) khi chưa được mài giũa có trọng lượng 793 carat. Viên kim cương này đã chứng kiến sự xâm chiếm và sụp đổ của đế quốc Anh ở tiểu lục địa Ấn Độ.

    Nhà sử học Anh William Dalrymple, đồng tác giả cuốn sách "Kohinoor: Câu chuyện về viên kim cương ô nhục nhất thế giới", đã nói:

    "Đó là một câu chuyện bạo lực đến khó tin. Hầu như tất cả những người từng sở hữu nó hoặc chạm vào nó đều đi đến một kết cục khủng khiếp".

    vien kim cuong koh i noor 1
    Viên kim cương Koh-i-Noor.

    Những nạn nhân bị ngộ độc, bị tra tấn dã man, có người bị đập đầu bằng gạch, một người mù vì cây kim nóng. Một sự kiện khủng khiếp khác là người ta đã đổ chì nóng chảy lên vương miện của một hoàng tử Ba Tư, để ép anh ta khai ra vị trí của viên kim cương.

    Các sử gia cho rằng viên kim cương được phát hiện lần đầu tiên ở Ấn Độ dưới vương triều Mughal. Ngày nay, nó được gắn trên vương miện của hoàng thái hậu Anh, đang được trưng bày ở Tháp Luân Đôn.

    Vụ việc đầu tiên liên quan đến Koh-i-Noor xảy ra vào khoảng năm 1750, sau khi vua Ba Tư là Nader Shah xâm lược thủ đô Delhi của vương triều Mughal. Ông vua này đã cướp phá thành phố, lấy đi những kho báu huyền thoại như Peacock Throne, trong đó có viên kim cương Koh-i-Noor.

    vien kim cuong koh i noor 1

    Peacock Throne là một cái ngai vàng, món đồ nội thất xa hoa nhất từng được làm ra. Nó giá trị gấp bốn lần ngôi đền Tal Mahal và được tạo nên từ những viên đá quý tốt hơn mà vương triều Mughal đã thu thập trên khắp Ấn Độ.

    Bản thân viên kim cương Koh-i-Noor không quá nổi bật vào thời đó, vì những người thuộc vương triều Mughal ưa thích những viên đá quý màu sắc như hồng ngọc hơn loại trong suốt. Nó chỉ thực sự nổi tiếng sau khi bị người Anh chiếm lấy.

    Sử gia William Dalrymple nhận xét: " Người ta biết đến Koh-i-Noor chỉ vì người Anh tạo ra rất nhiều phiền phức xung quanh nó".

    Sau khi giành được độc lập năm 1947, Ấn Độ đã cố gắng trong vô vọng để lấy lại viên kim cương. Koh-i-Noor là chủ đề thường xuyên được nhắc đến khi quan chức hai nước gặp nhau.

    Iran, Pakistan, thậm chí cả tổ chức Taliban ở Afghanistan cũng tuyên bố quyền sở hữu với viên kim cương, biến nó thành một rắc rối ngoại giao cho chính phủ Anh.

    Trong những thế kỷ sau sự sụp đổ của vương triều Mughal, Koh-i-Noor đã được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau như đồ chặn giấy của một học giả tôn giáo Đạo Hồi, hay gắn liền với chiếc băng đeo tay lấp lánh của một vị vua Sikh.

    vien kim cuong koh i noor 1

    Viên kim cương sang tay người Anh vào giữa thế kỷ XIX, khi Anh giành kiểm quyền kiểm soát vương quốc của người Sikh ở Punjab, hiện vùng đất này bị chia giữa Ấn Độ và Pakistan.

    Vua Sikh là Ranjit Singh đã giành được Koh-i-Noor từ một nhà lãnh đạo người Afghanistan, khi ông này đến Ấn Độ xin trú ẩn. Sau khi Ranji Singh qua đời năm 1839, chiến tranh giữa người Sikh và Anh nổ ra.

    Người thừa kế của vua Ranjit, lúc đó mới 10 tuổi, đã giao viên kim cương cho người Anh như một phần của hiệp ước hòa bình chấm dứt chiến tranh. Sau đó, nó được trưng bày tại Đại Triển lãm Luân Đôn năm 1851 và lập tức nổi tiếng.

    Với người Anh dưới thời đại Victoria, Koh-i-Noor trở thành biểu tượng cua sự chinh phục thuộc địa Ấn Độ. Kể từ khi nữ hoàng Victoria qua đời năm 1901, không có vị vua nước Anh nào mang viên kim cương được cho là bị nguyền rủa này.

    Viên kim cương sau đó được gắn lên vương miện của hoàng hậu Alexandra, hoàng hậu Mary trước khi chuyển sang vương miện của hoàng thái hậu Elizabeth, tức là mẹ của nữ hoàng Elizabeth II.

    Lần cuối cùng viên kim cương Koh-i-Noor ra khỏi lồng kính ở Tháp Luân Đôn là trong đám tang của hoàng thái hậu Elizabeth năm 2002, khi đó nó được đặt lên quan tài của bà.

    Theo Trí Thức Trẻ

  • Phơi quần áo vào ban đêm dường như là một việc hết sức bình thường, nhưng điều này lại bị cấm ở khu Beverley.

    Cư dân ở khu Westwood Park, Beverley bị cấm phơi phóng quần áo ở ngoài trời vào ban đêm và lệnh cấm này được nêu rõ trong giao kèo. Và đây chỉ là một trong những luật lệ kỳ lạ đang được áp dụng ở nhiều vùng trên khắp nước Anh. Bạn đã vi phạm bao nhiêu trong số những luật lệ sau đây.

    cam phoi quan ao

    1. Bật chuông chống trộm

    Đạo luật Vệ sinh Môi trường và Khu dân cư 2005 quy định bật chuông chống trộm và rời khỏi nhà nếu không giao chìa khóa cho một người khác để có thể vào tắt chuông chống trộm là bất hợp pháp. Vì thế, nếu bạn quên không gửi chìa khóa cho một người hàng xóm, bạn có thể phải đứng trước vành móng ngựa cùng với tên trộm.

    2. Hỏi mượn người lạ tiền lẻ để trả phí đỗ xe

    Chúng ta đều làm vậy cả - đỗ xe xong rồi phát hiện ra không mang theo đủ tiền lẻ để mua vé. Nhưng hỏi mượn tiền một người lạ vẫn được xếp vào hành vi ăn xin theo đạo luật về người lang thang ra đời năm 1824 và vi phạm luật này đồng nghĩa với việc bạn sẽ phải đi cải tạo trong vòng một tháng.

    3. Hóa trang thành một người lính

    Theo đạo luật 1906 về những hành vi sai trái của thủy thủ và binh lính, hành vi cải trang thành một thành viên của lực lượng vũ trang là vi phạm pháp luật. Vì thế, hóa trang thành sỹ quan trong một bữa tiệc có thể khiến bạn đối mặt ba tháng tù giam.

    4. Uống say trong quán rượu

    Theo điều 12, đạo luật 1872 về buôn bán bia rượu, “bất cứ ai bị tìm thấy trong tình trạng say rượu trên đường cao tốc hoặc các địa điểm công cộng khác, dù có công trình xây dựng hay không, hoặc ở bất cứ địa điểm kinh doanh rượu bia nào” cũng sẽ bị phạt 200 bảng. Vì thế, dù muốn hay không, bạn cũng sẽ phạm pháp nếu uống say trong quán rượu.

    5. Mang các loại đồ tự chế về nhà

    Theo điều 54 đạo luật cảnh sát đô thị 1839, “đẩy hay mang vác bất cứ loại thùng tôn, bồn, thùng gỗ, hoặc bánh xe, hoặc các loại thang, ván, cột, bảng hiệu, tranh cổ động, trên bất cứ lối đi hoặc lối qua đường nào, trừ mục đích dỡ hoặc chất hàng lên xe kéo,” đều là phạm luật. Vì thế, mang ít gỗ hay thang từ B&Q về có thể khiến bạn bị phạt 500 bảng.

    6. Mang xách cá hồi trong hoàn cảnh đáng ngờ

    Theo điều 32 đạo luật về cá hồi năm 1986, hành vi mang xách cá hồi trong hoàn cảnh đáng ngờ là vi phạm pháp luật. Những kẻ câu trộm, hãy cẩn thận. 

    7. Gõ cửa rồi chạy trốn

    Đạo luật cảnh sát đô thị 1854 quy định hành vi “cố ý trêu đùa và làm phiền nơi có dân cư cư trú bằng cách kéo hoặc rung chuông cửa hoặc gõ cửa mà không có lý do hợp lý” là phạm pháp. Vì thế, những đứa trẻ nghịch ngợm có thể bị phạt đến 500 bảng.

    8. Mang khoai tây Ba Lan đến Anh

    Điều luật về khoai tây Ba Lan 2004 nêu rõ việc “nhập khẩu vào Anh loại khoai tây mà người nhập biết rõ hoặc có lý do nghi ngờ là khoai tây Ba Lan” là việc làm phạm pháp. Điều luật này ra đời sau khi xuất hiện hiện tượng khoai tây bị sâu và thối tại nhiều trang trại khoai tây ở Ba Lan.

    9. Chơi bóng đá trên đường phố

    Đạo luật cảnh sát đô thị 1839 quy định việc “thả diều hoặc chơi bất cứ trò chơi nào gây phiền toái đến cư dân hoặc người qua đường trên phố” là hành vi trái pháp luật. Vì thế, trẻ em chơi bóng đá ngoài đường có thể bị phạt 500 bảng.

    10. Không mang theo túi đựng phân chó dự trữ

    Hội đồng Daventry, Northamptonshire, quy định mức phạt lên đến 100 bảng cho những người dẫn chó đi dạo mà không mang theo túi đựng phân chó. Điều đó có nghĩa, nếu họ đã dùng hết một túi, họ vẫn sẽ bị phạt nếu bị bắt gặp không mang theo thêm một chiếc dự phòng.

    11. Tham gia chuyện phiếm

    Các nhân viên ở hội đồng thành phố Carlisle bị cấm nói chuyện về bất cứ đề tài gì khác ngoài công việc. Một bức email gửi tới 31 nhân viên vào năm 2011 cảnh báo họ “cần nhận thức rõ lý do họ đang ở đây, đó là để làm việc chứ không phải coi văn phòng là nơi cắm trại nghỉ ngơi”.

    12. Làm sạch thảm trải trước cửa

    Theo điều 60 của đạo luật cảnh sát đô thị 1839, đập thảm trải cửa lên đường phố sau 8 giờ sáng là vi phạm pháp luật. Đập thảm vào bất cứ thời điểm nào trong ngày đồng nghĩa với 500 bảng tiền phạt.

    VietHome (Theo News Republics)

  • Đằng sau vẻ hào nhoáng, thủ đô London (Anh) ẩn chứa nhiều sự thật đáng sợ mà chắc hẳn ít người biết đến.

    nhung su that it biet ve thu do london1

    Ở cửa sông Thames, bạn sẽ nhìn thấy xác con tàu Mỹ USS Richard Montgomery dài 134 mét. Được biết, con tàu chở 1.440 tấn bom đạn đã bị "mắc kẹt" ở đây năm 1944. Các chuyên gia không biết liệu con tàu này có phát nổ hay không hoặc khi nào nó sẽ phát nổ. Đây là một trong những sự thật ít biết về thủ đô London.

    nhung su that it biet ve thu do london2

    Vào thập niên 1960, sông Thames ở thủ đô London bị ô nhiễm nặng đến mức nhiều loài sinh vật trú ngụ trong thành phố được cho là đã bị tuyệt chủng, trong đó có loài cá mút đá hút máu. Tuy nhiên, năm 2009, xác một con cá mút đá bất ngờ được phát hiện. Điều này có thể cho thấy những con cá mút đá vẫn “ẩn mình” ở sông 

    nhung su that it biet ve thu do london3

    Vào mùa hè năm 1858, cả trung thâm thủ đô London chìm trong mùi hôi thối do chất thải của con người không qua xử lý đổ vào sông Thames. Sự kiện đó còn được gọi là “The Great Stink”.

    nhung su that it biet ve thu do london4

    Năm 1976, một con dao găm của Đức Quốc xã từ Thế chiến II được tìm thấy ở sông Thames, thủ đô London. Loại vũ khí này gợi nhớ đến cuộc chiến tranh khốc liệt hàng chục năm trước. Vào đầu những năm 1940, Đức Quốc xã oanh kích thành phố London và nhiều địa điểm khác ở nước Anh trong nhiều ngày liên tiếp. 

    nhung su that it biet ve thu do london5

    Tháp London được xây dựng vào thế kỷ 11. Khi đó, đây là nơi giam giữ nhiều tù nhân như Anne Boleyn, King John Balliol, hay Guy Fawkes. Được biết, trong tháp này có nhiều bức graffiti do các tù nhân từng bị tra tấn viết. “Chết còn tốt hơn là sống”, tù nhân William Rane viết vào năm 1559. 

    nhung su that it biet ve thu do london6

    Các băng đảng ở khu East End của London “nổi tiếng” vào những năm 1960 về sự tàn bạo. Khu rừng Epping ở phía đông bắc thành phố là nơi các băng đảng tội phạm “xử lý” nạn nhân. Không ai biết chính xác bao nhiêu thi thể đã được chôn trong khu rừng này. 

    nhung su that it biet ve thu do london7

    Nhiều người tin rằng ga tàu điện ngầm British Museum bỏ hoang ở thủ đô London bị ma ám từ những năm 1930. 

    nhung su that it biet ve thu do london8

    Vào giữa thế kỷ 17, London bị dịch hạch hoành hành. Chỉ trong hai năm, 15% dân số ở thủ đô của nước Anh chết vì bệnh dịch này. Thi thể được chôn cất tập thể khắp London. 

    Bài liên quan: Bí ẩn "Cái chết đen": Hai ngôi sao chổi xuất hiện trên bầu trời London mở màn cho thảm kịch của toàn nhân loại

    cai chet den 1

    Năm 1347, "Cái chết đen" đã cướp đi sinh mạng của 200 triệu người, giết chết 60% dân số châu Âu và 33% dân số nước Anh. 10 năm sau, "thần chết" tiếp tục quay trở lại…

    Khi nền văn minh nhân loại phát triển và dân số bùng nổ theo từng ngày cũng là lúc môi trường xuống cấp. Từ vệ sinh nhà cửa, cách ăn uống của con người cũng không còn "trong lành" như xưa.

    Những động vật dễ gây bệnh như chuột, rơi, chấy rận...sinh sôi nảy nở, sống chung với con người. Cùng với sự giao thương mở cửa giữa các quốc gia đã mở lối cho hàng loạt dịch bệnh khủng khiếp ra đời. Trong đó có dịch hạch – "Cái chết đen" của nhân loại.

    Sự xuất hiện kỳ bí của hai ngôi sao chổi

    Nghị sĩ Samuel Pepys, một lãnh đạo của Hải quân Anh đồng thời là thành viên Quốc hội nổi tiếng thế giới bởi những cuốn nhật ký của mình.

    cai chet den 1
    Cuốn nhật ký của Samuel Pepys được xem là tư liệu lịch sử quý giá về dịch hạch.

    Ông từng ghi chép lại tỉ mỉ 3 sự kiện quan trọng bậc nhất lịch sử nước Anh đó là dịch hạch năm 1665 – 1666; Đại hỏa hoạn năm 1666 và chiến tranh Anh – Hà Lan giai đoạn 1665 – 1667.

    Trong cuốn nhật ký, ông từng nhắc đến hai ngôi sao chổi xuất hiện trên bầu trời London. Một ngôi sao chổi hiện vào cuối năm 1664 và một xuất hiện vào đầu năm 1665. Thời bấy giờ, các nhà chiêm tinh học đã cho rằng đó là dấu hiệu của ma quỷ sắp giáng xuống nước Anh. Song, ít ai hiểu được rằng, đó không phải là ma quỷ mà là "thần chết" mang tên dịch hạch đang chuẩn bị tới cướp đi mạng sống của không chỉ người dân Anh mà còn của cả Châu Âu.

    Nguồn gốc về "Cái chết đen"

    3 trong số những đại dịch chết chóc nhất đều được ghi nhận từ một loại vi khuẩn gây ra- Yersinia pestis hay còn gọi là vi khuẩn dịch hạch.

    Bệnh dịch hạch xảy ra đầu tiên được cho vào thời kỳ 541 sau Công nguyên tại Constantinople, thủ đô của Đế chế Byzantine (Ai Cập). Sau đó, bệnh dịch đã lan rộng khắp Châu Âu, Châu Á, Bắc Phi và Arab, giết chết ước tính từ 30 đến 50 triệu người, khoảng một nửa dân số thời điểm đó.

    800 năm sau, dịch bệnh này đã quay trở lại và khiến châu Âu điêu đứng trong "Cái chết đen" (Black Death). Cụ thể, tháng 10/1347, khi 12 con tàu từ Biển Đen cập cảng Messina của Sicilia, người dân có mặt lúc đó đã gặp phải một điều kinh hoàng. Hầu hết các thủy thủ trên những con tàu này đã chết, những người còn sống thì cũng đang bị bệnh nặng, toàn thân bao phủ bởi những nhọt đen rỉ máu và mủ.

    Chính quyền Sicilia đã nhanh chóng đưa hạm đội "tàu tử thần" ra khỏi cảng, nhưng đã quá muộn. Dịch hạch đã lan tỏa nhanh chóng, cướp đi sinh mạng của 200 triệu người, tương đương 60% dân số Châu Âu và 33% dân số nước Anh.

    Theo một số ý kiến, chấy và bọ chét được cho là vật mang vi khuẩn dịch hạch Yersinia Pestis ở sóc, thỏ, chuột và gà...Sau khi làm số lượng lớn động vật gặm nhấm chết đi, bọ chét và chấy sẽ mang theo vi khuẩn đi tìm vật trung gian mới, đó chính là con người.

    cai chet den 1
    Tranh mô tả dịch hạch. Ảnh: Getty Images

    Khi "không còn ai để lây nhiễm", người ta tưởng rằng dịch bệnh cũng sẽ theo đó mà "chết" đi. Song, 10 năm sau, từ năm 1348 - 1665 với 40 đợt bùng phát trong vòng 300 năm ở London. Mỗi đợt bùng phát, 20% đàn ông, phụ nữ và trẻ em lại tử vong vì mắc phải dịch bệnh quái ác này.

    Vào đầu những năm 1500, nước Anh đã thực hiện bộ luật đầu tiên yêu cầu tách riêng và cách ly những người bị bệnh. Những gia đình bị dịch bệnh tấn công sẽ được đánh dầu bằng một kiện cỏ được treo trên một cây gậy bên ngoài. Nếu người nào có người thân mắc dịch hạch, người đó sẽ phải mang theo một cây gậy trắng khi đến nơi công cộng.

    Đến năm 1665, đây cũng là đợt bùng phát dịch bệnh cuối cùng nhưng cũng là một trong những đợt bùng phát tồi tệ nhất kéo dài hàng thế thế kỷ, khiến 100.000 người dân Thủ đô nước Anh thiệt mạng chỉ trong vòng 7 tháng.

    Nghị sĩ Pepys từng viết trong nhật ký, tháng 8/1665, mô tả chuyến đi đến Greenwich: "Dọc đường, tôi nhìn thấy một cỗ quan tài có xác chết ở trong, chết vì bệnh dịch hạch, giữa một cánh đồng thuộc trang trại Coome. Có lẽ xác được thảy ra đấy vào tối qua và giáo xứ đã không chỉ định bất kỳ ai chôn cất nó. Thay vào đó – thật tàn nhẫn - họ cắt đặt 1 người canh chừng cả ngày lẫn đêm, cảnh báo không ai được lai vãng, kể cả gia đình của người chết. Bệnh dịch này làm cho chúng ta trở nên tàn nhẫn với nhau hơn cả loài chó…"

    Tất cả các hoạt động vui chơi giải trí lúc bấy giờ đều bị nghiêm cấm và các bệnh nhân đều bắt buộc phải ở trong. Mặc dù việc "giam" những người bị bệnh trong nhà và chôn các thi thể trong những ngôi mộ tập thể bị coi là dã man nhưng đó là cách duy nhất thời bấy giờ để khiến những đợt bùng phát cuối cùng của dịch bệnh chết chóc này kết thúc.

    Kỳ lạ đồng phục bác sĩ như "thần chết"

    Trong cơn tuyệt vọng bởi dịch bệnh, các nước châu Âu đã thành lập một đội ngũ bác sĩ dịch hạch (plague doctor).

    Họ không cần được đào tạo y khoa hoặc có rất ít kinh nghiệm, họ chỉ cần là những người gan dạ, sẵn sàng lao vào vùng dịch để kiểm đếm số người chết thay vì điều trị bệnh.

    Do suốt một thời gian dài, không ai biết chính xác nguyên nhân gây ra "Cái chết đen" là gì nên người dân thường tin vào ma quỷ hoặc thậm chí ngay chính cả giới y khoa cũng đổ lỗi cho "thuyết chướng khí". Có nghĩa là, dịch hạch lan truyền qua mùi hôi xác chết.

    cai chet den 1
    Tranh vẽ một bác sĩ dịch hạch vào thế kỷ 17. Ảnh: Paul Fürst/Death Scent.

    Điều này đã tạo ra tiền đề cho sự ra đời của bộ đồ bảo hộ kỳ quái sử dụng cho các bác sĩ và trở thành một biểu tượng ám ảnh khi nhắc tới "Cái chết đen".

    Theo đó, bộ đồ được phát minh vào năm 1619 bởi Charles de l'Orme, bác sĩ chính của quốc vương Pháp Louis XIII. Bao gồm một áo choàng trùm đầu dài đến mắt cá chân, quần ống túm, giày, mũ và găng tay. Tất cả đều được làm bằng da dê có tẩm chất thơm và phủ một lớp mỡ động vật cứng màu trắng ở bên ngoài để ngăn dịch cơ thể của nạn nhân thấm qua.

    Đi kèm với bộ đồ bảo hộ còn có một phụ kiện là mặt nạ hình mỏ chim với "cái mũi dài tới 15cm" chứa đầy thảo mộc như đinh hương, bạc hà, long não và nhựa thơm. Mục đích là để khử mùi hôi của xác chết. Hai lỗ hổng ở vị trí mắt được che chắn bằng kính.

    Khi thực hiện nhiệm vụ, bác sĩ cũng thường cầm theo một cây gậy gỗ dài để kiểm tra các thi thể mà không cần tiếp xúc, hoặc để xua đuổi người khác khi muốn họ giữ khoảng cách.

    Đáng tiếc, bộ đồ được ví như trang phục của thần chết này lại không có tác dụng ngăn chặn sự lây nhiễm của dịch hạch. Thậm chí, nó còn khiến người mặc cảm thấy nóng, bí và không thấm mồ hôi. Hậu quả là nhiều bác sĩ đã nhiễm bệnh và tử vong.

    Cafebiz (Nguồn: cdc.gov; History; The New York Times)

  • Du khách đến Anh và dạo bước bên dòng sông Thames êm đềm sẽ không khỏi khiếp sợ khi nhìn thấy một dây thòng lọng treo cổ lơ lửng trong gió. Đằng sau nó là một câu chuyện rùng rợn về luật pháp giai đoạn từ thế kỷ 17 đến 19.

    ben tre co o song thames anh quoc 1
    Ảnh: xpgomes10/Flickr

    Sự khiếp sợ của du khách ngày nay khi nhìn thấy chiếc thòng lọng thắt cổ có lẽ chỉ được ví là một phần nhỏ trong nỗi kinh hoàng của người dân thế kỷ 17-19.

    Bởi khi đó, tại bờ sông Thames không chỉ là một mà là hàng chục chiếc thòng lọng cùng những xác chết thối rữa, bị buộc vào lồng sắt. Nhiều người còn ám ảnh với cảnh tượng những chiếc lồng sắt đung đưa trong gió, phát ra những âm thanh chết chóc đủ để khiến bất cứ ai phải rùng mình.

    Đây là những phạm nhân bị hành hình công khai bằng hình thức treo cổ tại Execution Dock (bến hành hình) diễn ra bên bờ sông Thames tại thủ đô London trong suốt hàng trăm năm.

    Đây là thời điểm nước Anh đang tiến hành bành trướng, mở rộng phạm vi ảnh hưởng đế chế của mình, nhằm cạnh tranh với Tây Ban Nha và Pháp. Đế quốc Anh tiến hành mạnh mẽ công cuộc mở rộng thuộc địa tại những nơi xa xôi trên khắp các đại dương.

    Hoạt động giao thương trên biển giữa Anh và các thuộc địa diễn ra một cách nhộn nhịp. Các thuộc địa cung cấp nguyên liệu thiết yếu, đồng thời cũng là thị trường tiêu thụ hàng hóa do nước Anh sản xuất.

    Để hệ thống thương mại này thành công, Anh cần các tuyến hàng hải an toàn.

    ben tre co o song thames anh quoc 1
    Nhiều phim về cướp biển tái hiện lại cảnh treo cổ ở bên bờ sông Thames. Ở đây, một cảnh trong phim Cánh buồm đen (2014). Ảnh: Mischief PR

    Vào thời điểm đó, đặc biệt trong thời gian trị vì của Nữ hoàng Elizabeth I, nạn cướp biển được hoàng gia bảo trợ, và sử dụng như một công cụ hỗ trợ nhằm chống lại các tàu buôn của nước ngoài.

    Tuy nhiên những người kế nhiệm Nữ hoàng Elizabeth I lại không ủng hộ hành động này, việc dung túng cho cướp biển bị bãi bỏ. Việc cướp bóc trên biển được coi là một tội ác, vì nó là một mối đe dọa lớn đối với các tuyến thương mại.

    Hình phạt duy nhất cho tội ác này đó là cái chết.

    Trong giai đoạn này, phần lớn tội phạm chờ thi hành án tử hình sẽ bị giam giữ tại Newgate rồi sau đó được đưa đến Tyburn để treo cổ (vị trí này nay là Marble Arch).

    Cướp biển và các tội phạm hàng hải khác như những kẻ chống đối và buôn lậu, thường bị giam giữ tại nhà tù Marshalsea, sau đó sẽ đưa đến Execution Dock để xử tử công khai.

    Theo truyền thống lịch sử Anh, tội phạm thường bị hành quyết tại nơi gây án, do vậy cướp biển và các tội phạm hàng hải khác sẽ bị xử tử bên bờ sông Thames, bởi con sông này đổ ra biển Bắc.

    Trước khi ra pháp trường, phạm nhân được đưa đi diễu hành qua các con phố từ nhà tù đến Execution Dock, dưới sự giám sát của một vị tướng lĩnh Hải quân Hoàng gia cùng đông đảo người dân.

    Tại khu vực thi hành án và trên đường phố, người dân London thường tụ tập rất đông để theo dõi quá trình áp giải và xử tử. Mọi thành phần từ nam giới đến phụ nữ, già lẫn trẻ, thậm chí còn có cả trẻ em – tất cả tụ tập thành một đám đông khổng lồ với mong muốn được tận mắt chứng kiến tên cướp biển bị treo cổ đến chết.

    Trước khi thi hành án, phạm nhân được hưởng ân huệ cuối cùng đó là uống một cốc bia tại quán rượu mang tên The Turks Head Inn, hiện nay là một quán cà phê. Ngoài ra, tên cướp biển sẽ có cơ hội "nói lời cuối cùng" trước đông đảo dân chúng có mặt tại pháp trường.

    ben tre co o song thames anh quoc 1
    Một bản chạm khắc năm 1795 mô tả cảnh cướp biển bị treo cổ tại Execution Dock. Ảnh: Royal Museums Greenwich

    Để làm cho những tên cướp biển cảm nhận rõ ràng sự đau đớn trước khi chết, dây thòng lọng trên giá treo cổ được rút ngắn hơn so với bình thường đủ để khiến phạm nhân không bị chết ngay do gãy cổ khi rơi.

    Thay vào đó, phạm nhân sẽ cảm nhận cái chết đang đến chậm chạp do dây thừng siết chặt vào cổ. Trong quá trình này, phạm nhân sẽ không thể hô hấp, họ giãy giụa, quằn quại trong đau đớn trước khi chết.

    Việc thi hành án treo cổ luôn diễn ra khi thủy triều xuống thấp. Sau khi phạm nhân chấp hành xong án tử hình, người ta sẽ đợi cho đến khi ba lần thủy triều lên để "cọ rửa" thi thể những tên cướp biển trước khi hạ xuống.

    Riêng những tên cướp biển khét tiếng nhất, thi thể sẽ được "trưng bày" trong lồng sắt và được treo y nguyên trên giá trong thời gian dài hơn để cảnh báo cho tất cả những ai đang có ý tưởng trở thành cướp biển.

    Ví dụ như trường hợp của tên cướp biển khét tiếng, thuyền trưởng William Kidd, bị xử tử vào năm 1701 vì tội giết người và cướp bóc trên biển, thi thể của Kidd bị treo trong lồng sắt suốt ba năm để làm gương cho những tên cướp biển khác.

    ben tre co o song thames anh quoc 1
    Giá treo cổ hiện nay bên ngoài quán rượu Prospect of Whitby. Ảnh: Felix Cohen/Flickr

    Tuy nhiên, không vì thế mà nạn cướp biển suy giảm. Vào khoảng thế kỷ 18, cướp biển đã phát triển nhanh về số lượng đến nỗi gần như không thể áp giải những tên cướp biển sa lưới về London để xử tử vì thiếu nhân lực và sự sụt giảm về kinh tế.

    Sau khi Anh giành được các thuộc địa vùng Caribe, họ quyết định thành lập nên Tòa án Hải quân Hoàng gia tại Port Royal (Jamaica) và thuộc địa ở Bắc Mỹ (Boston, Providence và Charleston) để xử quyết cướp biển.

    Vụ hành hình cướp biển cuối cùng tại Execution Dock diễn ra vào ngày 16/12/1830, kết thúc hàng trăm năm thực thi các biện pháp xử lý cứng rắn của nước Anh đối với nạn cướp biển.

    Ngày nay, không một ai biết chắc chắn vị trí từng là nơi đặt giá treo cổ và hành quyết cướp biển tại Execution Dock ở London.

    Tuy vậy, du khách có thể hình dung về nó khi quan sát một "bản sao" ngay bên ngoài Prospect of Whitby, một quán rượu gần 500 năm tuổi trên phố Katharine's & Wapping bên bờ sông Thames.

    Theo Tuổi Trẻ